QUY TRÌNH KỸ THUẬT LÀM GIỐNG, TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY TRÔM
I.ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:
1.1. Đặc điểm thực vật
1.2. Yêu cầu sinh thái
Đất trồng:
Khí hậu:
- Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24oC - 30oC. Ở nơi có nhiệt độ trung bình từ 20oC, trôm sinh trưởng quanh năm.
- Lượng mưa trung bình năm từ 600mm trở lên.
- Độ ẩm không khí: 70%
II. KỸ THUẬT LÀM VƯỜN ƯƠM
2. 1. Thời vụ gieo hạt
Để xác định thời vụ gieo hạt cần căn cứ thời vụ trồng rừng, tuổi cây con xuất vườn để xác định. Thời điểm xử lý và gieo hạt từ tháng 3 đến tháng 4, chú ý tùy theo số lượng lao động mà xử lý lượng hạt từng đợt cho phù hợp.
2.2. Tạo bầu ươm cây, luống xếp bầu
a. Vỏ bầu:
Vỏ bầu ươm cây bằng polyethylen. Kích thước khoảng 13 x 18 cm. Phía đáy có đục 8 –10 lỗ tròn, đường kính lỗ 6 mm.
b. Hỗn hợp ruột bầu:
Hỗn hợp ruột bầu có thành phần cơ giới đất thịt nhẹ, phân chuồng phải được ủ cho hoai mục, được đập nhỏ và sàng qua sàng có độ rộng mắt lưới 1cm trước khi cho vào bầu đất. Thành phần hỗn hợp ruột bầu như sau:
- Đất thịt trung bình: 50%
- Cát: 40%
- Phân hỗn hợp: 10% (trong đó 90% phân chuồng hoai + 5% phân lân + 5% kali).
- Xử lý giá thể với phân bón vi sinh LALITHA 21: pha phân bón vi sinh LALITHA 21 với nước theo tỷ lệ 1:1000 – 1:2000, đảo trộn đều trước khi cho giá thể vào bầu.
c. Luống xếp bầu:
Làm luống chìm hay luống nổi căn cứ mức độ thoát nước của vườn ươm. Quy cách: dài 10-15 mét, rộng 1 mét, rãnh luống rộng 0,4 mét. Đất vườn phải được xử lý và cuốc xới giũ cỏ 2 lần trước khi làm luống.
Xếp bầu đất thẳng hàng sát vào nhau. Sau khi xếp bầu phải tiến hành chèn đất, bầu chèn xong mặt bầu phải bằng phẳng.
2.3. Gieo hạt - dặm hạt
a. Xử lý hạt:
b. Gieo hạt:
- Rơm rạ che tủ phải xử lý qua nước vôi trong để tránh sâu bệnh hại.
2.4. Chăm sóc cây con
a. Tưới nuớc cho cây con
b. Làm cỏ
- Tháng thứ nhất làm cỏ phá váng 2 lần.
- Tháng thứ 2 làm cỏ phá váng 1 lần.
- Tháng thứ 3 cây phủ kín mặt luống không cần làm cỏ.
c. Đảo bầu và phân loại cây
- Nếu thấy cây chậm phát triển phải tiến hành bón thúc cục bộ hoặc toàn diện, tùy theo mức độ có thể bón thúc thêm phân vô cơ. Hoặc hòa tan phân trong nước (nồng độ 2 – 3%) để tưới, tưới vào buổi chiều mát, sau khi tưới phân nên tưới lại nước với lượng 8 lít/m2 để rửa phân còn bám lại trên thân lá, chú ý chỉ bón thúc phân vô cơ từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 3.
2.5. Phòng trừ sâu bệnh
- Cây trôm trong vườn ươm ít bị sâu bệnh , nếu phát hiện thấy sâu hại dùng các lọai thuốc trừ sâu thông thường phun trừ. Phun 01 bình 8 lít cho 100 m2 mặt luống với nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Phun làm 3 lần , cách nhau 5 – 7 ngày/lần.
III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
- Tuổi cây: 3 – 4 tháng;
- Cao cây : 35 – 50cm. Đường kính cổ rể 1,0 – 1,3 cm;
- Cây sinh trưởng và phát triển cân đối, không cụt ngọn, không sâu bệnh;
- Cây con trước khi xuất vườn phải được nghiệm thu theo tiêu chuẩn qui định.
Cây con chuẩn bị xuất vườn, xuống giống
3.2. Mật độ và khoảng cách trồng
Tùy điều kiện đất đai tốt hay xấu, mật độ trồng rừng trôm biến động từ 500- 800 cây/ha.
- Hàng cách hàng 4m, cây cách cây 3m. Mật độ 800 cây/ha.
- Hàng cách hàng 5m, cây cách cây 4m. Mật độ 500 cây/ha.
Cây trôm được bố trí trồng thuần hoặc trồng hỗn giao với các cây trồng khác như điều, mãng cầu ...
3.3. Thời vụ trồng
- Trồng vào đầu vụ mưa hàng năm của khu vực trồng rừng trôm.
3.4. Chuẩn bị đất trồng
- Sau khi phát dọn xong tiến hành đào hố theo qui cách 40 x 40 x 40 cm. Đào hố trước khi trồng 10 –15 ngày Khi đào hố phải cho lớp đất mặt qua một bên, đất phía dưới qua một bên.
- Bón lót: 3 - 5kg phân chuồng và 0,05 - 0,1 kg phân NPK 16.16.8 cho mỗi hố và trộn đều với lớp đất mặt trước khi trồng.
3.5. Xuống giống
- Khi bứng và vận chuyển cây con phải nhẹ nhàng, không làm vở bầu đất. Cây con không được gãy ngọn, dập nát. Trồng đến đâu vận chuyển đến đó, không được chuyển ra hiện trường trước trồng quá 3 ngày.
- Moi lỗ sâu 20 – 25cm tại tâm lỗ, cắt đáy bầu và cây trồng phải đặt ngay ngắn giữa hố, sau đó dùng dao lam rạch một đường thẳng từ trên miệng xuống đáy túi bầu, từ từ lột bỏ vỏ bầu (tránh làm vỡ bầu). Dùng tay hoặc cuốc lấp đất lại và giẫm nhẹ xung quanh gốc.
- Sau khi trồng từ 7 - 10 ngày tiến hành trồng dặm những cây chết bằng cây con cùng tuổi để đảm bảo mật độ cho rừng trồng.
3.6. Bón phân
Thời điểm bón |
Loại phân bón |
Lượng phân/gốc/lần |
ĐVT |
Cách bón |
Bón lót |
Chế phẩm vi sinh V.Mona |
1 – 1,5 |
kg |
Trước trồng 15 – 20 ngày, cho phân vào hố, trộn đất, lấp đất 25 cm. Chế phẩm vi sinh V.Mona pha với tỉ lệ 1/1000 – 1/2000 tưới đều trên mặt hố đã bón lót. |
Phân bón hữu cơ V.Mona |
2 - 3 |
kg |
||
NPK 16.16.8 |
0,05 – 0,06 |
kg |
||
Sau khi trồng |
LALITHA 21 |
0,3 – 0,5 |
ml |
Pha loãng LALITHA 21 với nước theo tỷ lệ 1:2000, phun/tưới gốc. |
Năm 1 |
||||
- Cuối mùa mưa |
NPK 16.16.8 |
0,05 – 0,06 |
kg |
Bón cách gốc từ 30 - 50cm, sau đó phủ một lớp mỏng đất bột. |
Năm 2 |
||||
- Đầu mùa mưa |
Phân hữu cơ V.Mona |
5 |
kg |
Bón cách gốc từ 30 - 50cm, sau đó phủ một lớp mỏng đất bột. |
- Đầu mùa mưa - Cuối mùa mưa |
NPK 16-16-8 |
0,08 – 0,1 |
kg |
|
LALITHA 21/chế phẩm vi sinh V.Mona |
0,4 – 0,5 |
ml |
Pha loãng LALITHA 21 với nước theo tỷ lệ 1:2000, phun/tưới gốc. |
|
Năm 3 |
||||
- Đầu mùa mưa |
Phân hữu cơ V.Mona |
10 |
kg |
Bón cách gốc từ 30 - 50cm, sau đó phủ một lớp mỏng đất bột. |
- Đầu mùa mưa - Cuối mùa mưa |
NPK 16-16-8 |
0,1 – 0,12 |
kg |
|
LALITHA 21/chế phẩm vi sinh V.Mona |
0,6 – 0,8 |
ml |
Pha loãng LALITHA 21 với nước theo tỷ lệ 1:2000, phun/tưới gốc. |
|
Năm 4 trở đi |
||||
- Đầu mùa mưa |
Phân hữu cơ V.Mona |
15 |
kg |
Bón cách gốc từ 30 - 50cm, sau đó phủ một lớp mỏng đất bột.
|
- Đầu mùa mưa - Cuối mùa mưa |
NPK 16-16-8 |
0,15 – 0,2 |
kg |
|
LALITHA 21/chế phẩm vi sinh V.Mona |
0,6 – 0,8 |
ml |
Pha loãng LALITHA 21 với nước theo tỷ lệ 1:2000, phun/tưới gốc. |
Hướng dẫn sử dụng phân bón V.Mona:
Tác dụng của phân bón LALITHA 21/chế phẩm vi sinh V.Mona đối với cây mủ trôm:
Các chủng vi sinh vật như Azospirillum brasilense, Trichoderma, Pseudomonas fluorescens và Bacillus subtilis có trong LALITHA 21/V.Mona có tác dụng:
- Cố định Nitơ tự do trong không khí thành đạm dễ tiêu cho cây trồng, đồng thời phân giải các vi khoáng thiết yếu, làm tăng quá trình tích lũy các dược chất quý.
- Cung cấp các chủng vi sinh vật đối kháng, phòng trừ bệnh hại trong khu vực hệ rễ của cây, giúp cây khỏe.
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng đồng thời tăng cường tích lũy hoạt chất, tăng lượng mủ trôm.
- Các phyto hormone được tổng hợp từ các chủng vi sinh có trong LALITHA 21 giúp:
+ Với hạt giống: Giúp hạt nảy mầm nhanh, mạnh, tỷ lệ nảy mầm cao.
+ Với cây con, cây trưởng thành : Ngăn chặn sự tấn công của các loại nấm và khuẩn gây bệnh, kích thích cây ra rễ mới, giúp cây khỏe mạnh, tăng tỷ lệ cây sống khi chuyển cây từ vườn ươm ra trồng, giúp cây nhanh cho thu hoạch.
3.7. Chăm sóc
- Năm đầu sau khi trồng 2-3 tháng vun xới gốc rộng 1m và tủ cỏ rác giữ ẩm cho cây. - Năm thứ 2 và 3, mỗi năm chăm sóc 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, phát luỗng cây cỏ xâm lấn và vun xới, tủ gốc như năm thứ 1. Xử lý thực bì cục bộ nơi thưa, theo băng nơi dày. và được bố trí theo đường đồng mức, chiều rộng băng 2 mét.
- Năm thứ 2 – 3 sau trồng cần tiến hành tỉa cành, tạo tán cho cây để cây tập trung nuôi thân chính.
- Cây trôm ít bị sâu bệnh, cần kiểm tra thường xuyên nếu phát hiện thấy sâu, bệnh hại cần xử lý ngay theo phương pháp 4 đúng.
3.8. Thu hoạch mủ trôm
Sau 4 – 5 năm trồng, cây cao 4 – 5m, đường kính bình quân từ 12 cm trở lên, có thể khai thác thu hoạch mủ. Cây trôm càng lâu năm cho mủ càng nhiều. Mủ khai thác quanh năm. Vào tháng 3 – 4 dương lịch, cây trôm rụng lá nên ngừng khai thác.
Mủ trôm hình thành tại những vết thương của cây
Trên thân cây trôm cách gốc 50cm mở lỗ đến nơi cây phân cành. Khai thác bằng cách đục hoặc dùng máy khoan vào vỏ cây nhiều lỗ ở các vị trí khác nhau (mỗi lỗ kích thước khoảng 2 x 2cm); hàng dọc theo thân cây mỗi lỗ cách nhau 20 – 25cm, ngang theo chu vi thân cây mỗi hàng cách nhau 15cm và đục lỗ so le với hàng bên.
Lỗ đục sâu vừa hết lớp vỏ, từ các lỗ đục tiết ra nhựa (mủ), quy trình lấy mủ quay vòng từ 2 – 3 ngày, thời gian hết lấy mủ từ 10 – 15 lần sau khi các lỗ tiết nhựa từ thân cây tự lành trở lại.
Sau khi lấy mủ cần phân loại ngay và sấy khô mủ trôm dưới ánh nắng gắt trong thời gian 1 – 2 ngày hoặc bằng lò sấy.